Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

LẦN THEO DẤU CHÂN NGƯỜI XƯA! (tt 27)

HỌ LÊ NGỌC-  LÀNG HƯNG NHƠN
Gia phả chép lại lần trùng tu năm 1954.
Tuế thứ giáp ngọ niên, thập nhứt nguyệt nhị thập tứ nhựt (  ngày 24 tháng 11 năm giáp ngọ- 1954)
Sau khi hiệp định Genève , hòa bình tạm thời được lập lại trên quê hương, con dân trong họ trở về dựng lại nhà cửa, ruộng nương...Vẫn đau đáu nỗi niềm hướng về tổ tông, day dức bởi " binh hỏa" tộc phổ thất lạc...Các vị trưởng lão trong họ kêu gọi mọi người dựng lại nhà thờ Họ, lựa chọn ngày tốt, kính cáo tổ tông chép lại gia phổ Tộc Họ:


Tộc Phả ký 
Dự phù:Gia tộc chi hữu phổ do quốc chi hữu sử rã thiên thu chi sự tích do tồn cổ vãng kim lai bách thế chi tinh thần thượng tại kê chư thượng cổ thế viển nhơn yên sự thuộc nan khảo.Ngã thỉ tổ LÊ ĐỨC QUÝ CÔNG nguyên Thanh Hoá nhơn Lê Triều suất lai phục dự đồng thời chư ngũ tộc canh khẩn Vĩnh Hưng chi địa chỉ tăng quang di mộc chi căn cơ chí quốc triệu Tự Đức cải chính Hưng Nhơn kế dư tử tôn phồn thạnh kê nhị thập thế dư quốc triều Khởi Định sắc tặng "Nhựt bảo trung hưng tôn thần" Kinh di tam thập tải nhưng trung gian sở bị binh hoả tộc phổ thất lạc tự Cao Cao Cao liệt tổ kế thỉ tổ chi hậu thập nhị thế thất tích nan khảo khất nhập tự đường Tiền nhơn tu phổ giả chỉ tường sự tích tự thập nhị thế Cao Cao liệt tổ: 
Huý ngài Toản 黎德 纘 
Huý ngài Tự 黎 德 緒 
Huý ngài Tạo 黎德造 
dĩ hạ tư tộc nội hội đồng trai thành cụ tương bút chỉ trạch các nhựt hoán cựu giảng biên nội tự thế hệ mộ chí kỵ nhựt mộ táng tại hà xứ kỵ nhựt tại hà nguyệt trước chú tường bị đích sanh giã hà vi huynh thứ sanh giã hà vi đệ trật tự công minh nhứt nhứt đắc tường dĩ vi lưu tích thứ hạnh đắc di quang tiền dũ hậu vu vạn nhứt vân nhỉ. 
Tuế thứ giáp ngọ niên,thập nhứt nguyệt nhị thập tứ nhựt(*) 
Tức ngày 24 tháng 11 năm giáp ngọ (thứ ba 18/12/1954 DL) 

BỔN TỘC ĐỒNG TU SAO Y GIA PHỔ NỘI 
TỰ TÔN 
Lê Ngọc Viển (16) 
Lê Ngọc Liễn (16) 
Lê Ngọc Ký (16) 
Lê Ngọc Lượng (17)




Thỉ tổ: 

Lê Đức Quý Công- Ngài thỉ tổ họ ta quê quán ở Tỉnh Thanh Hoa (Bắc trung bộ).Đời nhà Lê chiếm lấy Quảng Trị,Ngài cùng 5 vị của 5 họ khác hợp nhau khai phá đất Vĩnh Hưng, Hải lăng, Quảng Trị .Trải bao gian lao, binh hỏa triền miên (Trịnh-Nguyễn phân tranh,Tây sơn nổi sóng,Gia Long phục quốc) quê hương mới do máu xương các Ngài dựng lập bị thiên tai, địch họa tàn phá, tử tôn xiêu tán, phân ly. Đến khoảng cuối thế kĩ 18, hậu duệ Ngài tồn tại ở Vĩnh Hưng,thuộc đời thứ 12 chỉ còn lại 3 gia đình: 
*Đệ nhất lang: Cao cao tổ húy Ngài Toản 
(Đội trưởng-Quân đội? Khoảng thời gian chúa Trịnh tiến vào diệt chúa Nguyễn, Tây sơn đánh chiếm Phú Xuân, Nguyễn Ánh phò hai chúa bôn tẩu vào nam) 
*Đệ nhị lang Cao cao tổ húy Ngài Tự 
*Đệ tam lang Cao cao tổ húy Ngài Tạo 
Sau khi diệt nhà Tây Sơn,Gia Long gồm thâu thiên hạ về một cỏi-1802; Từ đó binh hỏa tạm yên, con cháu phát triển nhiều về đường binh nghiệp, chính quyền...Triều TỰ ĐỨC đất Vĩnh Hưng được đổi tên Hưng Nhơn cho tới ngày nay. Con cháu một số tha hương... Lào,Tây Nguyên, Thừa Thiên, Nam Trung bộ, Đông Nam bộ…Đến nay đã có thế hệ đời 21…




Tộc ước:
Hiển thượng lịch đợi thập nhị thế liệt tổ,liệt tỉ,bá thúc huynh đệ,cô,thẩm,hữu sanh vô kỵ,hữu vị vô danh. Chí cao cao tổ sở bị binh hoả tử tôn nan khảo,chỉ tu phổ từ cao cao tổ dĩ hạ./.(*)1890
.....................................................................................

Năm giáp thân ngày 1 tháng 7 năm 1944 triều Bảo Đại thứ 19 Ngày nay trong chi phái xin trùng tu gia phổ,từ cao cao tổ mà lên xin nhập từ đường.Hậu sinh không rỏ minh tích xin biên chép từ cao cao tổ mà xuống để lưu hậu thế(**)1944
.........................................................................................


Tuế thứ giáp ngọ niên thập nhứt nguyệt nhị thập tứ nhựt(***)1954
 LÊ TỘC : đồng bổn tộc đẳng vì lập hiệp định cải chánh lưu chiếu sự.Dơn bổn tộc hội đồng trùng tu tộc phổ sự thanh các tộc trưởng,trí thức viên,tịnh tộc nội nhơn thiết kiến sự quan hiện tại.Nguyên ngã thỉ Tổ,sắc văn nội tự huý Lê Đức,nguyên Đức tự hệ thị tác đệ nhị tự,thử thời ngã thỉ Tổ huý danh thất tường,bổn tộc cung khai từ chỉ viết Lê Đức,hiện sắc văn kiến đề Lê Đức,nhưng bổn tộc thiết nghĩ tự hậu,dụng Đức tự khiếm trang,đồng ưng cải vi Ngọc tự,phương đắc thoả hợp,dĩ vi lưu chiếu tờ Bị Chú: Nội tự trong chi phái các hữu mộ chí đề phái Ngọc-Họ Lê
............................................................................
(Trích sao y bản chính cuốn tộc phổ do Bác Triêm (17) cất giử-btrong đợt trùng tu năm giáp ngọ 1954-bNăm cả họ đồng cải từ họ Lê phái Đức ; sang họ Lê Phái Ngọc.
Bác Thoang (17)-Chú Long (17) làm thư ký?


(*)Trùng tu gia phổ lần thứ nhứt,Thành thái năm thứ 2,tháng giêng (tháng 2/1890)
Không rỏ danh tính đại diện hội đồng bổn tộc (Phỏng đoán các ngài đời (14) và (15) chép lại đời tổ phụ trở về sau?

(**)Trùng tu gia phổ lần 2 Bảo Đại thứ 19 năm Giáp thân 11/05 Â L (thứ bảy 01/07/1944)
Không rỏ danh tính đại diện hội đồng bổn tộc(Phỏng đoán các ngài (15) và (16)

(***)Trùng tu lần 3 năm Giáp ngọ 14/11 Â L (thứ bảy 18/12/1954)
Ông Viển (16) Ông Ký (Du) (16) Ông Liễn (16) Ông Lượng (17)

(****)Trùng tu lần 4 năm Nhâm thân 01/06 Â L (thứ ba 30/06/1992)
Ông Thích (17)
Ông Triêm (17) 
Ông Duệ (17) 
Ông Phụng (17) 
Ông Đinh (18) 
Ông Toại (18)

Nhà thờ họ ta qua nhiều lần trùng tu xây dựng trên đất hương hỏa của họ (?) tại xóm Trung Chính,thôn Hưng Nhơn, Hải Hòa, Hải Lăng, Quảng Trị.
Thôn có 3 xóm:
Tây Thành (xóm thượng)
Trung chính (xóm trung)
Đông An (xóm hạ)
Nhà thờ họ tộc khang trang vửng trải nhìn ra con hói làng, hướng nam- Đông nam, xung quanh xây thành, cổng chào tam quan to đẹp, do công sức con cháu trong Họ hợp sức trùng tu, để nơi phụng thờ chư liệt tổ được trang nghiêm, các dịp giỗ chạp có nơi thoáng đãng cho con cháu nội ngoại tụ họp cúng tế, thăm viếng lẫn nhau.
Xem hình ảnh tại:https://picasaweb.google.com/105979083294539649739/VeQue2007

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét